DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP GIÚP HS HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4-(Cô giáo Phùng Thị Hiên)

Tháng Tư 19, 2016 8:41 sáng

I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:

Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh, thì phương pháp dạy học được xem như là một cách thức hoạt động của GV trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động trong học tập và đạt các mục tiêu dạy học ở tất cả các môn học nói chung và phân môn địa lí trong chương trình lớp 4 nói riêng .

Phân môn địa lí là một môn học mới trong chương trình tiểu học lớp 4, có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm. Nó không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự vật hiện tượng địa lí trên bề mặt Trái đất mà còn giải thích, phân tích, so sánh tổng hợp các yếu tố địa lý cũng như giúp HS thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau. Đồng thời nó còn giáo dục các em việc phát hiện, khai thác, sử dụng, bảo vệ và cải tạo tài nguyên thiên nhiên, môi trường một cách hợp lí nhằm góp phần tích cực vào việc xây dựng kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh của Tổ quốc.

Qua thực tế nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, trong đó có phân môn địa lí. Tôi nhận thấy nhiều giáo viên và HS còn cho rằng phân môn địa lí là môn phụ, môn học thuộc lòng, chỉ cần cho các em tìm hiểu kiến thức thông qua các câu hỏi trong SGK và cho HS đọc nhiều lần để rút ra kết luận của bài học. Với phương pháp dạy học như vậy dẫn đến các em có thói quen ghi nhớ kiến thức máy móc. Chính vì thế việc ghi nhớ các kiến thức của các em không lâu bền, các em dễ nhằm lẫn các kiến thức và quan trọng hơn là không biết phát huy tính tích cực học tập của từng học sinh. Giáo viên không phân hóa đối tượng trong quá trình dạy học.

Để giúp giáo viên khắc phục tình trạng này và vận dụng những phương pháp dạy học mới vào dạy học tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập nhằm giúp học sinh học tốt môn địa lí lớp 4” để rút ra những kinh nghiệm trong quá trình phân hóa đối tượng cho HS, giúp HS tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức trong việc học phân môn địa lí ở lớp 4.

II. m« t¶ gi¶I ph¸p :

1. Những hạn chế khi chưa sử dụng phương pháp dạy học tích cực

– Giáo viên dạy theo phương pháp truyền thống. Học sinh tiếp thu kiến thức thụ động. Giờ học còn mang nặng lý thuyết, chưa nhẹ nhàng và phong phú, sôi nổi.

– Giáo viên mới chỉ truyền thụ kiến thức SGK theo các tiết học, việc hướng dẫn HS tự giác học tập còn ít. Các kiến thức kỹ năng vận dụng của HS chưa nhiều. HS chưa biết được vận dụng toàn bộ các đã học để thực hành và phục vụ bản thân hàng ngày .

– HS còn chưa mạnh dạn tự tin khi giao tiếp, tổ chức các hoạt động nhất là những HS rụt rè, ngại giao tiếp. Các kỹ năng sống chưa được tích lũy và hoàn thiện tích cực.

– Khả năng tự học còn hạn chế, việc tìm hiểu khám phá kiến thức còn ít nên việc lĩnh hội kiến thức đạt kết quả chưa cao.

   Do vậy, việc nâng cao hiểu biết thực tế cuộc sống của HS chưa cao, HS chưa phát huy được khả năng sáng tạo và phát triển năng lực của mình nhất là đối với học sinh có năng khiếu về các mặt hoạt động và giao tiếp. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu và vận dụng các phương pháp dạy học mới để cải tiến quá trình dạy học để đáp ứng với sự phát triển hiện nay.

2. M« t¶ gi¶i ph¸p sau khi t¹o ra s¸ng kiÕn:

    Để dạy học phát huy được tính tích cực chủ động của HS trong học tập thì trước hết người GV phải có kiến thức cần thiết cho việc đổi mới thì mới sử dụng được chúng trong dạy học đáp ứng “Đổi mới căn bản – toàn diện giáo dục”

1. GV cần phân biệt được sự khác nhau giữa dạy học tích cực với dạy học thụ động

– Phương pháp dạy học tích cực là gì?
+ Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Cho nên người học phải tích cực nhận thức, luôn có khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
+ Phương pháp này mô tả mức độ ghi nhớ như biểu đồ sau:

Hình 1. Biểu đồ mô tả mức độ ghi nhớ

 – So sánh với phương pháp học thụ động?
+ Dạy học thụ động hướng dẫn của GV mang tính áp đặt, HS-SV ít tích cực. Với dạy học tích cực hướng dẫn của GV mang tính định hướng, HS-SV tự lực, năng động.

Hình 2. Biểu đồ mô tả dạy học thụ động và dạy học tích cực

– Những biểu hiện cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
+ Đối với GV: Cho thấy sự chuẩn bị, chọn lọc các phương pháp phù hợp; biết gợi mở, dẫn dắt HS khám phá kiến thức; thời gian hoạt động ít nhưng thời gian quan sát theo dõi nhiều.
+ Đối với HS: Đóng vai trò chủ động, là trung tâm trong việc tìm hiểu tri thức mới, tự quyết định phong cách, nhịp độ của việc học, đồng thời biết vận dụng tốt kiến thức vào công việc thực tiễn, có thể tìm ra cách giải quyết mới hữu hiệu, độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, làm theo mẫu hướng dẫn,… Ở các cấp độ như sau: “Bắt chước tìm tòi Sáng tạo nhận thức”.
*“Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.

Chẳng hạn : Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy giáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì thế, thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Vì vậy, người giáo viên phải phân biệt được “Dạy và học tích cực” với “Dạy và học thụ động”để điều chỉnh việc dạy học cho phù hợp.

2. Biết cách sử dụng các phương pháp trong dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong quả trình dạy học môn Địa lý:

Vậy GV vận dụng các phương pháp giảng dạy – Các kỹ thuật dạy học nào? để phát huy được tính tích cực – chủ động của HS trong học tập? Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, tôi đã sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực và đã thu được kết quả .

* Các kỹ thuật sử dụng trong dạy học tích cực

   1- Kĩ thuật “khăn trải bàn”

 – Kĩ thuật “khăn trải bàn” Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực – Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS – Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

Kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy học tích cực

 – Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn” Hoạt động theo nhóm (4người /nhóm)  Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…). Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề…). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút. Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời. Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.

   2- Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

 – Kĩ thuật “Các mảnh ghép” Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp – Kích thích sự tham gia tích cực của HS để nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2).

 – Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép” Vòng 1- Vòng 2 1 11 11 1 2 22 22 2 3 33 3 33.

  VÒNG 1: Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người. Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ: nhóm 1: nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B; nhóm 3: nhiệm vụ C). Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao. Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

  VÒNG 2: Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3…). Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm ở vòng 2 để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng.

   3-Sơ đồ tư duy

 * Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não, là một phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả:

+ Mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng.

+ Bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng.

    Sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.

• Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm.

• Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên.

• Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó.

• Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

   4- Dạy học theo góc

* Học theo góc là gì? Là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học. Là một môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ thể. Kích thích HS tích cực học thông qua hoạt động. Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động. Mục đích là để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi hoạt động.

*Ví dụ: 3 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách học khác nhau và sử dụng các phương tiện/ đồ dùng học tập khác nhau. Đọc tài liệu, xem băng, làm thí nghiệm, áp dụng (trải nghiệm), (quan sát), (phân tích), (áp dụng).

* Các bước dạy học theo góc

Bước 1: Lựa chọn nội dung bài học phù hợp.

Bước 2: Xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng góc.

Bước 3: Thiết kế các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ ở từng góc bao gồm phương tiện / tài liệu (tư liệu nguồn, văn bản hướng dẫn làm việc theo góc; bản hướng dẫn theo mức độ hỗ trợ, bản hướng dẫn tự đánh giá,…)

Bước 4: Tổ chức thực hiện học theo góc – HS được lựa chọn góc theo sở thích – HS được học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (ví dụ 10’ – 15’ tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu.

Bước 5: Tổ chức trao đổi/ chia sẻ (thực hiện linh hoạt): Tiêu chí học theo góc

 1. Tính phù hợp

 2. Sự tham gia

 3. Tương tác và sự đa dạng

* Một số lưu ý của dạy học theo góc: Chọn nội dung bài học phù hợp với đặc trưng của học theo góc. Chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tư liệu phù hợp với nhiệm vụ học tập mỗi góc. Đảm bảo cho HS thực hiện nhiệm vụ luân phiên qua các góc (Học sâu và học thoải mái)

    5-  Kĩ thuật phòng tranh: Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

 – GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.

 – Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

 – HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’ và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.

 – Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu.

6- Kĩ thuật “ Trình bày một phút”: Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp.

    7- Kĩ thuật “Chúng em biết 3”:

 – GV nêu chủ đề cần thảo luận.

 – Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này.

 – HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp.

 – Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.

    8- Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

 – GV đưa ra một câu chuyện / một vấn đề / một bức tranh / một thông điệp /… mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS / nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.

 – HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.

 – HS/nhóm HS trình bày kết quả.

 – Gv hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá

* Ví dụ: Áp dụng các kĩ thuật giảng dạy cho một bài cụ thể :

 Bài 9. Thành phố Đà Lạt

CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU

1. Khởi động:

 – HS nghe bài hát : Đà Lạt tôi yêu

 – HS kể những cảnh đẹp của Đà Lạt .

2. Trải nghiệm – Khám phá:

 – HS kể những điêu em biết về Đà Lạt ?

 – Tìm hiểu về Đà Lạt qua chuyến du lịch qua màn ảnh nhỏ .

3. Các hoạt động cơ bản :

§ Hoạt động1: Hoạt động nhóm 4 – Sử dụng kĩ thuật ” Khăn trải bàn “

 – HS nhận câu hỏi và hoàn thành nhiệm vụ vào vị trí của mình.

 – Đà Lạt nằm ở cao nguyên nào?

 – Đà Lạt ở độ cao bao nhiêu?

 – Mô tả một cảnh đẹp của Đà Lạt?

§ Hoạt động 2 :Thảo luận nhóm – Sử dụng kĩ thuật” Mảnh ghép “

– Tại sao Đà Lạt lại được chọn làm nơi du lịch, nghỉ mát? 8 phút

– Đà Lạt có những công trình kiến trúc nào phục vụ cho việc nghỉ mát, du lịch? – Kể tên một số khách sạn ở Đà Lạt?

– Tại sao Đà Lạt được gọi là thành phố của hoa, trái?

§ Hoạt động 3 : Trưng bày sản phẩm – Sử dụng kĩ thuật ” Phòng tranh”

HĐTQ chia nhóm trưng bày các sản phẩm tranh ảnh sưu tầm được của Đà Lạt

 – Các nhóm cùng chia sẻ sản phẩm của nhóm .

*Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS, điều kiện cơ sở vật chất…GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc. Sự thành công của một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả người dạy và cả người học. Dù ở điều kiện và hoàn cảnh nào, sự chuẩn bị chu đáo – sử dung tốt các phương pháp dạy học tích cực đem lại những giờ học có hiệu quả, bổ ích và hứng thú đối với cả người dạy, người học.

    Kết hợp với các kỹ thuật dạy học đổi mới GV phải biết sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với môn địa lý của HS lớp 4

3. Các phương pháp sử dụng trong dạy học tích cực:

     Như chúng ta đã biết, ở tiểu học, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh nên yêu cầu về mặt tri thức của dạy học Địa lí chủ yếu chỉ dừng lại ở việc cung cấp các biểu tượng Địa lí, bước đầu hình thành một số khái niệm, xây dựng mối quan hệ Địa lí đơn giản và hình thành cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân tích bảng số liệu và biểu đồ…Vì vậy, phương pháp dạy học Địa lí đặc trưng ở tiểu học thường được sử dụng trong dạy học như sau:

 Phương pháp hình thành biểu tượng Địa lí.

 Phương pháp sử dụng bản đồ.

 Phương pháp sử dụng bảng số liệu.

* Vận dụng các phương pháp trong dạy và học Địa lí nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học tập

1. Phương pháp hình thành biểu tượng Địa lí:

Các biểu tượng Địa lí là những hình ảnh về các sự vật hiện tượng Địa lí tri giác phản ánh vào trong ý thức của học sinh, được giữ lại trong trí nhớ và có khả năng tái tạo theo ý muốn. Biểu tượng là hình ảnh cụ thể và bao giờ cũng có tính riêng lẻ. Đối với học sinh tiểu học, biểu tượng Địa lí được phân làm 2 loại:

 – Biểu tượng kí ức (còn gọi là biểu tượng tái tạo) là sự phản ánh đối tượng đã tri giác trong quá khứ.

 – Biểu tượng tưởng tượng (còn gọi là biểu tượng sáng tạo) là sự phản ánh những đối tượng tuy không tri giác trực tiếp, nhưng được tư duy tạo ra trên cơ sở những đối tượng có liên quan đã tri giác được.

Các biểu tượng Địa lí được học ở tiểu học là các biểu tượng cụ thể mà các em có thể quan sát được trực tiếp ngoài thực địa hay qua tranh ảnh như: núi, đồi, rừng rậm nhiệt đới, đồng bằng, ruộng bậc thang, rừng ngập mặn, thành phố, nông thôn, hồ, thác,…

Để sử dụng thành công phương pháp này, giáo viên phải tổ chức cho học sinh được quan sát trực tiếp đối tượng tại thực địa hoặc qua tranh ảnh, băng hình. Học sinh được quan sát một cách có mục đích, có kế hoạch để có được biểu tượng đúng về đối tượng Địa lí thông qua các bước sau đây:

Đối với việc hình thành biểu tượng kí ức:

Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát.

Bước 2: Xác định mục đích quan sát.

Bước 3: Tổ chức hướng dẫn cho học sinh quan sát đối tượng thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập được sử dụng dựa trên mục đích quan sát và trình độ hiểu biết của học sinh.

Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát về đối tượng. Sau đó giáo viên cùng học sinh trao đổi, thảo luận, xác nhận và hoàn thiện kết quả, nhằm giúp cho các em có biểu tượng đúng về đối tượng.

*Ví dụ minh họa:

Ví dụ 1: Bài 8. Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên (tiếp theo).

 Hoạt động 2: Tìm hiểu về đặc điểm của rừng khộp.

 Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát: Hình 6, 7/trang 91: Ảnh rừng khộp và rừng rậm nhiệt đới.

 Bước 2: Xác định mục đích quan sát: Học sinh quan sát để tìm ra đặc điểm của rừng khộp. Từ đó học sinh biết so sánh rừng khộp với rừng nhiệt đới.

 Bước 3: Tổ chức hoạt động cho học sinh quan sát đối tượng qua hệ thống các câu hỏi: giáo viên cho học sinh mở sách giáo khoa, học sinh thảo luận theo cặp (dự kiến thời gian: 3 phút ) sau đó trả lời các câu hỏi sau đây:

 Câu 1: Ảnh chụp cảnh gì ?

 Câu 2: Trong rừng khộp em thấy có nhiều loại cây hay một loại cây?

 Câu 3: Các cây trong rừng khộp có kích thước gần như nhau hay khác nhau?

 Câu 4: Các cây ở rừng khộp trông xanh tốt hay xơ xác?

 Câu 5: Cảnh rừng khộp giống hoặc khác với cảnh rừng nhiệt đới ở những điểm nào?

 Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát về đối tượng.

– Đại diện các nhóm trình bày trước lớp.

– Các nhóm khác nhận xét, bổ sung ý kiến, giáo viên nhận xét. Cuối cùng, giáo viên chốt ý: Tây Nguyên có nhiều loại rừng. Nơi có lượng mưa nhiều thì rừng rậm nhiệt đới phát triển. Nơi có mùa khô kéo dài xuất hiện rừng rụng lá vào mùa khô đó chính là rừng khộp. Rừng khộp là rừng thưa, thường chỉ có một loại cây và rụng lá vào mùa khô.

Ví dụ 2: Bài 3. Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn.

 Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát: Yêu cầu học sinh quan sát ảnh (hình 1/ trang 77/ sgk).

 Bước 2: Xác định mục đích quan sát: Tìm hiểu đặc điểm của ruộng bậc thang.

 Bước 3: Tổ chức hoạt động học sinh quan sát đối tượng thông qua hệ thống câu hỏi, giáo viên chia nhóm 4. (Dự kiến thời gian: 3 phút) – Giáo viên nêu: Để biết được đặc điểm của ruộng bậc thang như thế nào, cô mời các em cùng quan sát hình 1/ sgk/ 77, thảo luận và trả lời các câu hỏi sau:

 Câu 1: Xác định tên ảnh hình 1 trang 77 là gì?

 Câu 2: Ruộng bậc thang thường làm ở đâu?

 Câu 3: Trên ruộng bậc thang người dân ở Hoàng Liên Sơn thường những trồng cây gì?

 Câu 4: Tại sao phải làm ruộng bậc thang?

 Bước 4: Tổ chức cho học sinh trình bày kết quả.

  – Đại diện các nhóm trình bày (có thể gọi bất kì mỗi nhóm trả lời 1 câu, các nhóm khác đóng góp ý kiến, bổ sung để hoàn chỉnh câu trả lời).

  – Học sinh nhận xét, giáo viên nhận xét. Giáo viên chốt ý: để trồng lúa nước trên đất dốc, người dân xẻ sườn núi thành những bậc phẳng gọi là ruộng bậc thang. Trên ruộng người ta thường trồng lúa, ngô, chè, rau,…Trồng trọt là nghề chính của người dân Hoàng Liên Sơn, vừa phát triển về kinh tế gia đình vừa giúp cho việc giữ nước, chống xói mòn nên độ màu mỡ của đất rừng không bị rửa trôi. Giáo viên có thể mở rộng: ở nước ta ruộng bậc thang xuất hiện hơn 100 năm qua, tập trung ở một số vùng núi cao như Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu đặc biệt có nhiều ở Sa Pa.

* Đối với việc hình thành biểu tượng tưởng tượng:

Bước 1: Giáo viên tìm hiểu xem học sinh có những biểu tượng nào có liên quan với biểu tượng sắp học.

Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh, phân tích, tổng hợp đối tượng tưởng tượng.

Bước 3: Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập được sử dụng theo từng trường hợp cụ thể.

Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo, hoàn thiện kết quả làm việc thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập. Sau đó, giáo viên cùng học sinh liên hệ so sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa đối tượng tưởng tượng và đối tượng quan sát. Mô tả biểu tượng một cách sinh động nhằm giúp học sinh tưởng tượng ra biểu tượng về một đối tượng toàn vẹn theo bước phân tích và tổng hợp.

* Ví dụ minh họa: Ví dụ 1: Bài 4. Trung du Bắc Bộ

 Hoạt động 2: Tìm hiểu về chè và cây ăn quả ở Tây Nguyên: Học sinh quan sát và nêu quy trình chế biến chè.

Bước 1: Tìm các biểu tượng có liên quan đến các biểu tượng sắp học.

– Biểu tượng sắp học là quy trình chế biến chè

– Biểu tượng có liên quan là đồi chè: cảnh hái chè ở Thái Nguyên.

– Giáo viên chuẩn bị vật thật: chè, chè đã được đóng gói.

Bước 2, 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh phân tích tổng hợp đối tượng tưởng tượng bằng hệ thống các câu hỏi. Giáo viên không cho học sinh mở sgk. Gv chuyển ý:  – Hoạt động cả lớp (phương pháp hỏi đáp, dự kiến thời gian: 5 phút), (Giáo viên nêu lần lượt từng câu hỏi, cả lớp theo dõi, suy nghĩ và trả lời cá nhân.)

Câu 1: Hãy mô tả động tác của người dân trong hình 1? (học sinh Ø trình bày)

Câu 2: Theo em, khi hái chè xong người ta làm gì? (phân loại chè,…) Giáo viên minh họa động tác phân loại chè (vật thật).

Câu 3: Phân loại xong người ta làm gì (Giáo viên thao tác vò chè, học sinh quan sát và trả lời: vò chè )

Câu 4: Vò chè xong, chè còn ẩm làm sao để giữ được lâu? (phơi hoặc sấy khô

 – Giáo viên nêu và cho học sinh xem vật thật (các sản phẩm chè): Như vậy đã hoàn tất quy trình chế biến chè.

Bước 4: Học sinh b/c hoàn thiện kết quả làm việc.

 – Giáo viên yêu cầu một, hai học sinh trình bày các bước chế biến chè, học sinh nhận xét, giáo viên tuyên dương học sinh nêu đúng quy trình chế biến chè.

 Ví dụ 2: Bài 2. Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn.

Hoạt động 2: Tìm hiểu về bản làng với nhà sàn. Giáo viên không cho học sinh xem ảnh (Hình 1: Bản người Mông, Hình 2: Nhà sàn ở Hoàng Liên Sơn – sgk/73) mà yêu cầu học sinh phải tưởng tượng nhà sàn là nhà như thế nào dựa vào vốn hiểu biết của bản thân và dựa trên biểu tượng địa lí kí ức (nhà em ở).

 – Giáo viên chuyển ý và chia lớp thành nhóm 6, các nhóm cùng thảo luận và trả lời các câu hỏi sau đây ( thời gian :4 phút.) Cụ thể:

Bước 1: Tìm những biểu tượng có liên quan đến những biểu tượng sắp học ( nhà em ở).

Bước 2,3: Hướng dẫn học sinh so sánh phân tính, tổng hợp đối tượng tưởng tượng. Giáo viên đưa các câu hỏi trên bảng phụ yêu cầu một em đọc nội dung câu hỏi:

Câu 1: Nhà em đang ở được làm bằng gì? Bếp có chung với phòng ngủ hay không?

Câu 2: Sàn nhà và mặt đất có cách nhau không?

Câu 3: Theo em, có loại nhà nào mà giữa sàn nhà và mặt đất có Ø khoảng cách nhau?

Câu 4: Có loại nhà làm bằng gỗ, tre, nứa,… không? Đó gọi là nhà gì?

Câu 5: Tại sao có loại nhà này ở miền núi?

Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày, học sinh nhận xét, bổ sung. Giáo viên tuyên dương những nhóm có ý kiến đúng, phong phú về nội dung (học sinh nêu được những điểm khác nhau giữa nhà em ở đồng bằng khác với nhà sàn ở miền núi và học sinh xác định nhà sàn là nhà như thế nào ? Tại sao người dân tộc miền núi phải làm nhà sàn để ở?).

 Giáo viên kết luận: cho học sinh xem tranh sgk/73 (photo phóng to hoặc hình ảnh trên giáo án điện tử).

Giáo viên chốt ý: Dân tộc ở Hoàng Liên Sơn thường sống tập trung thành bản, các bản nằm cách xa nhau. Họ sống ở nhà sàn, họ làm nhà sàn để chống ẩm thấp và thú dữ. Nhà sàn được làm bằng các vật liệu tự nhiên như gỗ, tre, nứa…Bếp được đặt ở giữa nhà không chỉ là nơi đun nấu mà còn để sưởi ấm khi mùa đông giá rét và hiện nay, một số nhà sàn đã được lợp bằng ngói trên mái nhà.

2. Phương pháp sử dụng bản đồ: Bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin địa lí. Đối với lớp 4, các em đã được làm quen với bản đồ và biết một số yếu tố trên bản đồ ( tên bản đồ, phương hướng, tỷ lệ bản đồ, ký hiệu bản đồ,…).

Để sử dụng phương pháp này, giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước sau:

 Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.

 Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.

 Bước 3: Tìm vị trí địa lí của đối tượng trên bản đồ dựa vào kí hiệu.

 Bước 4: Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn giản của đối tượng.

 Bước 5: Xác lập mối liên hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các – thành phần như địa hình và khí hậu; địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người … trên cơ sở học sinh biết kết hợp những kiến thức bản đồ và kiến thức địa lí để so sánh và phân tích.…

* Ví dụ minh họa:

Ví dụ 1: Bài 8. Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên

Hoạt động 1: Tìm hiểu về việc khai thác sức nước.

 Bước 1: Xác định mục đích làm việc với lược đồ.

 Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên lược đồ.

 Bước 3 : Tìm vị trí địa lí của đối tượng trên lược đồ dựa vào kí hiệu.

 Câu 1: Dựa vào phân tầng địa hình hãy cho biết những con sông này bắt nguồn từ đâu và chảy ra đâu?

 Câu 2: Tại sao con sông ở đây lắm thác ghềnh?

 Câu 3: Người dân Tây Nguyên khai thác sức nước để làm gì?

 Câu 4: Hãy chỉ vị trí nhà máy thủy điện trên lược đồ và cho biết nhà máy thủy điện đó nằm trên con sông nào?

 Bước 4: Quan sát trên lược đồ, nêu đặc điểm, so sánh phân tích đối tượng địa lý đơn giản đã tìm hiểu trên lược đồ.

 Giáo viên chốt ý: Tây nguyên là nơi bắt nguồn của nhiều con sông, các sông chảy qua nhiều vùng có độ cao khác nhau nên lắm thác ghềnh.

 + Ví dụ 2: Bài 9. Thành phố Đà Lạt:

 Hoạt động 1: Tìm hiểu về thành phố nổi tiếng về rừng thông và thác nước.

 Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.

 Bước 2: Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên lược đồ.

 Bước 3: Tìm vị trí địa lí của đối tượng trên lược đồ dựa vào kí hiệu

– Giáo viên chia nhóm (nhóm 5).

– Yêu cầu học sinh quan sát trên lược đồ cùng với vốn hiểu biết của bản thân, em hãy trả lời các câu hỏi sau:

  Câu 1: Xác định vị trí của Đà Lạt trên lược đồ?

  Câu 2 : Đà Lạt nằm trên cao nguyên nào?

  Câu 3: Đà Lạt ở độ cao khoảng bao nhiêu mét?

  Câu 4 : Với độ cao đó , Đà Lạt có khí hậu như thế nào?

  Câu 5: Tại sao Đà Lạt được chọn làm nơi du lịch nghỉ mát?

– Các nhóm thảo luận, dự kiến thời gian 4 phút.

– Giáo viên theo dõi giúp đỡ nhóm có học sinh yếu.

Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày.

– Nhìn vào lược đồ trên bảng, các nhóm lần lượt trình bày (có thể yêu cầu 2 nhóm bất kì trình bày, các nhóm khác nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xét) và chốt ý.

3. Phương pháp sử dụng bảng số liệu: Bảng số liệu là các số liệu được tập hợp thành bảng gọi là bảng số liệu.

   Ở lớp 4 các em bước đầu làm quen với bảng số liệu đơn giản. Để giúp học sinh khai thác kiến thức từ bảng số liệu, người giáo viên cần xác định kiến thức trong bài cần nắm qua bảng số liệu và đưa ra một số câu hỏi dựa vào bảng số liệu và trình độ của học sinh để các em tìm ra kiến thức. Qua đó, giúp học sinh phát triển kĩ năng so sánh, đối chiếu, phân tích… các số liệu. Để thực hiện phương pháp này, giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc qua các bước sau:

Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.

Bước 2: Đọc nhan đề của bảng số liệu.

Bước 3: Xem tên các cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèm với các số liệu ở từng cột.

Bước 4: Đối chiếu các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để rút ra nhận xét.

* Ví dụ minh họa: Bài 21. Thành phố Hồ Chí Minh:

 Hoạt động 1: Tìm hiểu về Thành phố Hồ Chí Minh thành phố lớn nhất cả nước

 Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.

 Bước 2: Đọc nhan đề của bảng số liệu.

 Bước 3: Xem tên các cột, nắm được ý nghĩa đơn vị và thời điểm đi kèm với các số liệu ở từng cột.

 Yêu cầu học sinh : Quan sát bảng số liệu về diện tích và số dân của một số thành phố, em hãy trả lời các câu hỏi sau:

 Câu 1: Nêu diện tích và dân số của thành phố Hồ Chí Minh?

 Câu 2: Hãy so sánh diện tích và dân số của thành phố Hồ Chí Minh với các thành phố khác?

 Câu 3: Diện tích và dân số ở thành phố Hồ Chí Minh gấp khoảng mấy lần thành phố Hà Nội?

Bước 4: Đối chiếu các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để rút ra nhận xét.

Bước 5: Giáo viên chốt ý, Giáo viên có thể hỏi học sinh:

 – Qua bảng số liệu trên em có nhận xét gì về thành phố Hồ Chí Minh?

 – Học sinh nêu ý kiến, giáo viên kết luận: Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất cả nước và lớn hơn thủ đô Hà Nội.

+ Ví dụ 2: Bài 13: Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ.

Hoạt động 2: Tìm hiểu về vùng trồng nhiều rau xứ lạnh.

Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu.

 Bước 2: Đọc nhan đề của bảng số liệu và yêu cầu học sinh quan sát bảng số liệu ở sgk/105, thảo luận và trả lời các câu hỏi sau đây:

 Câu 1: Hà Nội có tháng nào nhiệt độ dưới 200c?

 Câu 2: Với nhiệt độ như vậy con người cảm thấy lạnh hay nóng?

 Câu 3: Các tháng này thuộc vào mùa nào?

 Câu 4: Vào mùa đông khí hậu Hà Nội như thế nào? Thích hợp cho việc trồng những loại cây rau nào?

Bước 3: Giáo viên cho học sinh trình bày kết quả thảo luận.

 – Đối chiếu các số liệu theo hàng dọc, hàng ngang của bảng số liệu để rút ra nhận xét.

 – Đại diện các nhóm trình bày trước lớp, các nhóm khác nhận xét bổ sung và chốt lại.

 4. Tiết dạy sử dụng dạy học tích cực

Trên cơ sở GV nắm được các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực người GV còn phải biết tổ chức các hình thức dạy học cho phù hợp mới phát huy được tính tính cực chủ động sáng tạo của học sinh. Sau đây, tôi xin nêu một tiết học tiêu biểu :

Bài 31 : Thành phố Đà Nẵng

A. Mục tiêu

– Học sinh nêu được một số đạc điểm thành phố Đà Nẵng:

+ Vị trí ven biển, đồng bằng duyên hải miền Trung.

+ Đà Nẵng là thành phố cảng lớn, đầu mối nhiều tuyến đường giao thông.

+ Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp, địa điểm du lịch.

– Chỉ được thành phố Đà Nẵng trên bản đồ – lược đồ.

B. Đồ dùng

– Bản đồ địa lý Việt Nam – Lược đồ thành phố Đà Nẵng .

– Một số tranh ảnh cảng thành phố Đà Nẵng  – nơi du lịch.

– Bài hát: Đà Nẵng thành phố tôi yêu (Trúc Nam).

– Phiếu bài tập (hoạt động 2).

C. Hoạt động dạy học:

1. Khởi động (2′)

– GV cho HS nghe bài hát “Đà Nẵng thành phố tôi yêu “

? Bài hát ca ngợi thành phố nào? <Thành phố Đà Nẵng>

– GV bổ sung: Bài hát “Đà Nẵng thành phố tôi yêu ” của Trúc Nam

? Thế ở lớp mình những em nào đã được đến thành phố Đà Nẵng rồi?

<HS trả lời>

2. Trải nghiệm (2′)

– Học sinh kể những điều đã biết về thành phố Đà Nẵng

=> GV giới thiệu bài: Thành phố Đà Nẵng

3. Khám phá, tìm hiểu kiến thức

* Hoạt động 1: Thảo luận nhóm đôi (3′)

Bản đồ địa lý Việt Nam

– Tìm vị trí thành phố Đà Nẵng trên bản đồ địa lý Việt Nam?

Lược đồ thành phố Đà Nẵng

– Xác định vị trí, giới hạn thành phố Đà Nẵng trên lược đồ thành phố Đà Nẵng?

– Nêu các loại đường giao thông có ở Đà Nẵng?

– Học sinh báo cáo kết quả

– Kết luận: Đà Nẵng là đầu mối giao thông lớn ở duyên hải miền trung vì thành phố Đà Nẵng là nơi đến và nơi xuất phát của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường hàng không. Đó là điều kiện thuận lợi để Đà Nẵng trở thành 1 thành phố cảng.

– Giới thiệu cảng Tiên Sa – Đà Nẵng

=> Nội dung 1: Đà Nẵng – Thành phố cảng.

* Hoạt động 2: Thảo luận nhóm 4 (3′) (Sử dụng phương pháp kỹ thuật khăn trải bàn)

         1. Kể tên một số hàng hóa được đưa đến và đưa đi từ Đà Nẵng?

         2. Đà Nẵng có các ngành công nghiệp nào? Hãy kể tên các cơ sở sản xuất công nghiệp ở Đà Nẵng mà em biết?

– Hội đồng tự quản điều khiển nhóm và tổ chức các nhóm báo cáo kết quả.

– GV bổ sung

– Kết luận: Đà Nẵng có rất nhiều ngành công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp, chính vì vậy Đà Nẵng trở thành trung tâm công nghiệp lớn của miền Trung.

=> Nội dung 2: Đà Nẵng – Trung tâm công nghiệp.

* Hoạt động 3: Trò chơi: Hướng dẫn viên du lịch.

– Gv hướng dẫn cách chơi: Chia 2 đội lam hướng dẫn viên du lịch.

– Giới thiệu các điểm du lịch ở Đà Nẵng (tranh ảnh sưu tầm).

– GV giới thiệu một số cảnh đẹp tiêu biểu, món ăn hấp dẫn…

=> Nội dung 3: Đà Nẵng – Thành phố du lịch

*) Ghi nhớ: Học sinh nêu đặc điểm nổi bật của thành phố Đà Nẵng

=> Ghi nhớ SGK/148.

4. Thực hành:

– Học sinh hoạt động nhóm: Vẽ tranh, làm thơ, viết văn về những hiểu biết về Đà Nẵng.

– Học sinh trưng bày sản phẩm.

– Học sinh liên hệ:

+ Bảo vệ môi trường khi đến du lịch.

+ Có ý thức xây dựng thành phố Đà Nẵng quê hương đất nước

-> Thể hiện bằng hành động: Chăm ngoan, học giỏi,..

5. Ứng dụng:

– Chia sẻ những hiểu biết của mình về Đà Nẵng cho người thân: Kể lại hoặc vẽ tranh.

III. HIỆU QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1. Kết quả đạt được:

Sau một thời gian vận dụng các biện pháp trên, tôi đã thu được các kết quả :

– Chất lượng giáo dục về các mặt được nâng cao: HS tích cực, tự giác trong học tập, HS tự điều khiển các nhóm học tập sôi nổi, tự tổ chức được các hoạt động tập thể như : Giao lưu PTNLHS, hoạt động ngoài giờ lên lớp ….

– Giáo viên tích cực nghiên cứu bài dạy, tổ chức linh hoạt sáng tạo các tiết dạy, các tiết dạy tổ chức nhẹ nhàng  sôi nổi và mang lại hiệu quả cao.

– HS mạnh dạn hơn trong giao tiếp, các kỹ năng sống được rèn luyện tạo cho HS tác phong nhanh nhẹn, tự tin hơn trong học tập. HS hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động HT, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.

– HS ham thích học môn Địa lí vì các em thấy được nhiều điều cần khám phá cuộc sống và thế giới xung quanh.

– Chất lượng giảng dạy đã được nâng cao, kết quả kiểm tra định kì cuối kì I vừa qua đạt kết quả cao. Cụ thể: 100% học sinh biết làm quen với những dạng bài. Trong đó( qua kiểm tra chất lượng) có:

+ Học sinh đạt điểm giỏi: 15 học sinh – đạt 50 %

+ Học sinh đạt điểm khá: 12 học sinh – đạt 40 %

+ Học sinh đạt điểm trung bình: 3 học sinh – đạt 10%

+ Không có học sinh điểm kém

2. Bài học kinh nghiệm :

Vì vậy, sau thời gian nghiên cứu và thực hiện: “Vận dung dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh” mà tôi đã áp dụng, tôi rút ra được một số kết luận và bài học kinh nghiệm như sau :

 Một là: Người GV phải nhiệt tình nghiên cứu và có được những hiểu biết về các nội dung đổi mới thì mới điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tích cực hóa để thực hiện tốt nội dung dạy học hiện nay.

 Hai là: Tích cực tổ chức các hoạt động tập thể để học sinh được rèn các kỹ năng giao tiếp – tổ chức các hoạt động sẽ góp phần lớn cho việc dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.

 Ba là: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chú trọng phát triển năng lực học sinh; thì cần phải vận dụng dạy học theo tình huống, dạy học sinh định hướng hành động, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý phát huy khả năng tự học cho học sinh. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải chú trọng vào năng lực của người học (tư duy sáng tạo, vận dụng giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.

 Bốn là: Quan tâm phát triển năng lực cá nhân; lấy học sinh làm trung tâm và việc đánh giá chỉ nhằm định hướng cho người học phương pháp học tập và con đường tiếp tục học tập. Để làm được như vậy, giáo viên phải có khả năng đáp ứng được đòi hỏi mới trong giáo dục và nhà trường phải hoàn toàn chủ động, làm chủ được trong việc tiếp cận này.

Năm là: Đối với môn Địa Lí, giáo viên phải nắm vững nội dung, kiến thức của chương trình, tìm hiểu về đặc trưng của môn học, áp dụng những phương pháp dạy phù hợp với từng bài học. Không có phương pháp nào là tối ưu. Muốn đạt hiệu quả tốt cần có sự kết hợp sáng tạo các phương pháp, tăng cường các hoạt động thực hành dưới sự chỉ đạo của giáo viên và sự chủ động học tập của học sinh. Đồng thời qua những bài học, giáo viên cần chú ý việc lồng ghép giáo dục môi trường, giáo dục kĩ năng sống, liên hệ thực tế sau mỗi bài học để kịp thời giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường sống…..đồng thời rèn luyện các em tính tự học, tự giác, tự rèn luyện, biết vận động mọi người phải yêu thiên nhiên và tích cực bảo vệ môi trường. Kết hợp cùng Ban đại diện cha mẹ học sinh, các đoàn thể, hỗ trợ giáo viên trong công tác chủ nhiệm, giáo dục đạo đức học sinh  góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

Sáu là: Qua việc thực hiện đề tài vào giảng dạy trên lớp, đã được tổ chuyên môn đánh giá đạt hiệu quả tốt. Ban giám hiệu khuyến khích giáo viên trong nhà trường cần học tập, vận dụng vào thực tế giảng dạy của lớp mình để mang lại những bài học sinh động và bổ ích. Giáo viên tiếp tục rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, nghiên cứu bài dạy, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để mang lại hiệu quả trong giảng dạy. Tích cực tham gia làm đồ dụng dạy học phục vụ cho môn học, sưu tầm tranh ảnh, bản đồ, hình vẽ và vật liệu để làm giàu “kho phương tiện của mình và của nhà trường, làm quen với cách dạy học bằng công nghệ thông tin, đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới.